"An cung ngưu hoàng hoàn" - Sử dụng cần chú ý những vấn đề gì ?

  Ncs, Ths, Bs Tôn Mạnh Cường

  29/01/2019

  0 nhận xét

68725 lượt xem

Những năm gần đây, để phòng thân, những người có bệnh tim mạch thường mách nhau đi mua một loại thuốc của Trung Quốc có giá rất đắt, gọi là "An cung ngưu hoàng hoàn". Theo thông tin trên một số trang báo và trang mạng: "An cung ngưu hoàng hoàn" là thuốc cấp cứu tai biến mạch máu não rất tốt, do đó những người mắc bệnh tim cần dự trữ ít nhất một viên. Ngoài ra, thuốc còn có thể dùng uống thường xuyên để dự phòng.

Vậy thì, trên thực tế, tác dụng của thuốc "An cung ngưu hoàng hoàn" thực hư thế nào? Khi sử dụng cần chú ý những vấn đề gì? Thuốc có độc và có tác dụng phụ bất lợi hay không?

1. Thành phần và tác dụng:

    "An cung ngưu hoàng hoàn" là phương thuốc do danh y Ngô Cúc Thông, đời Thanh (Trung Quốc) sáng chế và được ghi trong sách "Ôn bệnh điều biện". Thành phần của "An cung ngưu hoàng hoàn" gồm: Ngưu hoàng 30g, uất kim 30g, tê giác 30g, hoàng cầm 30g, hoàng liên 30g, hùng hoàng 30g, sơn chi 30g, chu sa 30g, mai phiến 7g, xạ hương 5g, trân châu 15g. Tất cả tán bột thật mịn, luyện với mật làm viên, mỗi viên 3g, lấy vàng lá làm áo, bao sáp. Từ nhiều năm nay, vì tê giác đã trở thành động vật quý hiếm, cấm săn bắt, nên sừng tê giác đã được thay bằng sừng trâu.

 

 

    Theo Đông y: "An cung ngưu hoàng hoàn" có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh, khai khiếu, hóa đàm. Chủ trị ôn nhiệt bệnh, nhiệt tà nội hãm tâm bào, đàm nhiệt ủng bế tâm khiếu, dẫn đến các triệu chứng: sốt cao phiền táo, hôn mê, nói sàm, hoặc lưỡi rụt, tay chân lạnh toát.

    Do tác dụng cấp cứu nhanh và hữu hiệu, thuốc được xếp hàng đầu trong "Ôn bệnh tam bảo" (3 loại thuốc quý chữa ôn bệnh), bao gồm "An cung ngưu hoàng hoàn", "Chí bảo đan" và "Tử tuyết đan".

 

 

    Trong Đông y, "cung" chỉ "Tâm bào cung". "Tâm bào" là cơ quan bọc ngoài tâm (tim). Ôn nhiệt tà độc khi xâm phạm vào tâm, trước hết tác động đến tâm bào. "An cung ngưu hoàng hoàn" là thuốc có khả năng giải trừ tình trạng "đàm nhiệt nội hãm tâm bào", dẫn tới hôn mê, thần minh nhiễu loạn (rối loạn thần kinh trung ương), tê liệt, nói sàm, chân tay quyết lạnh, ... Thuốc có tác dụng giải trừ bệnh lý ở tâm bào (an cung) và thành phần quan trọng nhất là "ngưu hoàng", nên được đặt tên là "An cung ngưu hoàng hoàn".

2. Khi nào sử dụng?

    Những năm gần đây "An cung ngưu hoàng hoàn" được sử dụng để cấp cứu và điều trị đột quỵ, xuất huyết não hiệu quả rất tốt và nhanh chóng. Nhiều người bị hôn mê, tiên lượng rất xấu, uống "An cung ngưu hoàng hoàn" đã tỉnh lại và sức khỏe dần dần hồi phục. Tuy nhiên, "An cung ngưu hoàng hoàn" không phải là "thần dược chữa đột quỵ" và không thể áp dụng trong tất cả các trường hợp đột quỵ - tai biến mạch máu não.

 

    Đột quỵ tương ứng với bệnh "Trúng phong" trong Đông y.

    Trúng phong là bệnh có bệnh cơ và triệu chứng hết sức phức tạp. Căn cứ vào nguyên nhân và chứng trạng cụ thể, Trúng phong được Đông y chia thành những loại hình (thể bệnh) khác nhau; đối với mỗi thể bệnh cần áp dụng những phương pháp, bài thuốc thích hợp, mới có thể mang lại hiệu quả mong muốn.

    Nói cụ thể hơn, trên lâm sàng Trúng phong được phân chia thành 2 loại hình (thể) lớn: Trúng kinh lạc và Trúng tạng phủ.

    Mỗi thể lớn lại được phân thành nhiều thể nhỏ. Như Trúng tạng phủ được chia thành 2 thể nhỏ: "Nhiệt bế" (Dương bế) và "Hàn bế" (Hàn bế).

    Thuốc "An cung ngưu hoàng hoàn" chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp "Nhiệt bế" (Dương bế).

    Dấu hiệu để nhận biết "Nhiệt bế" (Dương bế): Đột nhiên hôn mê bất tỉnh nhân sự, hai hàm răng cắn chặt, miệng mím chặt, hai tay nắm chặt, thân và tứ chi co cứng; mặt đỏ người nóng, thở thô, miệng hôi, phiền táo, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền hoạt.

 

3. Chống chỉ định, kiêng kỵ:

    Nói chung, khi sử dụng "An cung ngưu hoàng hoàn" cần chú ý một số vấn đề sau:

        (1) "An cung ngưu hoàng hoàn" là bài thuốc được lập ra để chữa trường hợp hôn mê do "Nhiệt bế" (Dương bế). Nếu sử dụng đối với "Hàn bế" sẽ khiến cho bệnh thêm trầm trọng.

        Chứng trạng đặc trưng của "Hàn bế": Hôn mê kèm theo các biểu hiện, như mặt trắng bệch, môi tái nhợt, nằm yên bất động, rêu lưỡi trắng nhớt, tay xòe, chân tay lạnh, mồ hôi trán vã ra như dầu, chất lưỡi trắng nhớt.

        Trường hợp "Hàn bế", không được sử dụng "An cung ngưu hoàng hoàn" mà cần dùng thuốc có tính "ôn khai", loại như "Tô hợp hương hoàn", ...

        (2) Những người mắc chứng âm hư, lưỡi đỏ ít rêu, không được uống "An cung ngưu hoàng hoàn", nếu không âm dịch trong cơ thể càng thương tổn nặng, các triệu chứng âm hư càng thêm trầm trọng.

        (3) Trong thành phần của "An cung ngưu hoàng hoàn" có xạ hương, là vị thuốc dễ gây trụy thai, nên phụ nữ đang mang thai cần rất thận trọng khi sử dụng.

        (4) Trong thành phần của "An cung ngưu hoàng hoàn" có ngưu hoàng, sừng trâu (hoặc sừng tê giác), hùng hoàng, hoàng liên, hoàng cầm, chi tử, đều là những vị thuốc rất lạnh (đại hàn), dễ gây tổn hại tỳ vị. Do đó những người tỳ vị hư nhược (chức năng tiêu hóa yếu) hay ỉa chảy không nên sử dụng "An cung ngưu hoàng hoàn".

 

 

        (5) Trong thành phần của "An cung ngưu hoàng hoàn" có chu sa và hùng hoàng là hai vị thuốc có tính độc. Chu sa có thành phần chính là sunfua thủy ngân thiên nhiên (thuỷ ngân (Hg) 86,2% và sunfua (S) 13,8%); hùng hoàng có thành phần chủ yếu là asen sunfua (AsS) trong đó asen chiếm chừng 70,1%, sunfua 29%. Do đó không được sử dụng với liều cao hoặc sử dụng dài ngày "An cung ngưu hoàng hoàn". Người chức năng gan thận không kiện toàn sử dụng cần thận trọng.

        (6) Trong thời gian sử dụng "An cung ngưu hoàng hoàn" cần kỵ các món ăn cay nóng hậu vị, để tránh "trợ hỏa sinh đàm".

        (7) Trong quá trình sử dụng, nếu xuất hiện triệu chứng sợ rét, chân tay lạnh, sắc diện trắng nhợt, vã mồ hôi lạnh, mạch đập yếu, ... cần lập tức ngừng sử dụng thuốc.

 

Liên hệ tư vấn, sử dụng 0911.806.806

Lương y THÁI HƯ